Về thăm trường cũ – Trần Hữu Hiệp ( PKLHP 74-81)

VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ.
(Trích HỒI ỨC VỀ TRƯỜNG XƯA – Trần Hữu Hiệp 6/1-9/1- C2 khóa 1974-1981)

Ta về lặng lẽ bên thềm cũ
Tìm lại dư âm thuở đến trường
Phấn trắng bảng xanh đời chưa gợn
Tim non hồi hộp nghĩa yêu thương
Về đây tóc đã điểm màu sương
Bạn bè giờ phiêu dạt muôn phương
Thầy cô giờ tuổi cao bóng xế
Thầm trách ai gây cuộc hí trường
Đâu đây vang tiếng gọi thanh niên
Cột cờ thầm lặng bóng chênh vênh
Lớp cũ sân xưa giờ quạnh vắng
Bạn bè từng đứa gọi thầm tên
Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt
Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm
Tổ Quốc, Danh Dự và Bổn Phận
Lỗi hẹn đời đâu chỉ một lần
Tình vốn vô cùng, đời hữu hạn
Hữu tâm mà lực bất tòng tâm
Ta về hong lại ngày tháng cũ
Nỗi niềm tâm sự với tường câm

Một mình tôi cô đơn trước cổng trường vắng lặng. Không bạn, không thầy, cơn gió chiều lay nhẹ làm xao xuyến tâm hồn. Hai cây phượng giờ đã không còn nữa, thay vào đó là hai cây bàng non trẻ. Cổng trường vẫn uy nghiêm, sừng sửng. Câu đối trước trường xưa là:

Khổng mạnh cương thường tu khắc cốt,
Tây Âu khoa học yếu minh tâm.
Sau đó được đổi lại là:
Đoàn kết đòan kết đại đòan kết,
Thành công thành công đại thành công.
Bây giờ là hai mảng tường không có ghi một chữ nào. Tôi có cảm giác thời gian luôn có thiên hướng xóa bỏ cái cũ chứ chẳng bao giờ có thiện ý phục hồi.

Tường vàng, ngói đỏ, rêu xanh. Đâu rồi bóng ông cụ bán bánh nướng kẹp dừa trước cổng. Hồi đó bọn tôi thường không may phù hiệu vào ngực áo như trường đã quy định. Tôi ghé mua bánh nướng của cụ, lấu một ít bột trét lên áo để dán phù hiệu vào. Một hôm không may vào trường gặp thầy Cam Duy Lễ cùng đội trật tự học đường bắt được. Thầy ngoắc tôi lại, lột phù hiệu ra và không cho vào trường với lý do mặt phẳng PK không được cố định. Vẫn thấp thoáng bóng bác Hội đâu đó chộp bắt mấy thằng đi trễ leo tường, bác Phẩm xăng xái đi dẹp loạn đá banh trong sân. Có cả bóng dáng của Đặng Thoại Thành đi trể giả bộ lom khom tìm cây viết để đánh lạc hướng bác Hôi. Hàng dầu vẫn thả những chiếc hoa hai cánh xuống sân để xe. Khung trời mơ mộng tuổi hoa niên vẫn còn đó. Mình lại đứng đây tần ngần hoài niệm khi tuổi ngoại tứ tuần.
Phía trên hàng rào là một hàng dài chấn song giờ đây đã được trám xi măng kín mít. Hồi đó trong một lần ra về sớm, tôi đã lia hai cước làm gãy hai chấn song để chui ra chứ không đợi bác Hội mở cửa. Ra khỏi trường, ngoái đầu nhìn lại, tôi thấy bác Hội lắc đầu nguầy nguậy, bất lực bó tay. Cũng tại nơi này, sau khi ăn tất niên mừng xuân canh thân, lớp 12C2 ở lại đá banh, không chịu về. Đến trưa, anh em rủ nhau qua trường NTMK đá trận chung kết. Lúc đó không có ai mở cổng. Hùng Campuchia trưởng lớp ngồi ở trên hàng rào, Hiệp Sĩ thì nâng xe cho Hùng chuyển ra. Xong phần xe, cả bọn cùng trèo tường ra ngoài.
Kia rồi hành lang danh dự sạch bóng, uy nghi. Mấy hàng điệp trong sân vẫn còn đó. Mái ngói ngày xưa là ngói hình vảy cá nay đã được thay bằng ngói kiểu mới, thừa màu đỏ thiếu màu rêu. Góc sân đất giờ đã trám xi măng. Phía cổng xuống sân sinh hoạt vẫn còn bảng tin của trường.
Cửa lớp đóng im ỉm. Ngày xưa cửa lớp được sơn vàng, trùng với màu tường. Bây giờ cửa được sơn màu xanh. Đi ngang qua lớp 12C2 cũ, theo thói quen thời học sinh, tôi ngó qua khe cửa. gạch trắng đỏ, bụt giảng, bảng xanh, bàn ghế cũ vẫn còn nguyên. Bây giờ tôi mới bắt đầu nhớ thầy, nhớ bạn. Cái bàn kế dãy chót, hướng đối diện bàn giáo viên là chỗ tôi ngồi. Tôi thường ngắm mây trôi, lá rụng ngoài khung cửa sổ mà mơ mà mộng. Nơi bàn thầy là nơi tôi từng ấp úng kể lể tâm sự với thầy cô khi không thuộc bài. Năm ấy Luân Đui phụ trách điểm danh. Tôi phải thường xuyên nhờ nó giúp đỡ vì bận công việc đi làm thêm. Thời tôi, bạn bè, thầy cô lưu lạc tứ phương.
Danh sách lớp vì vậy cứ dài ra mà sĩ số lớp thì chỉ là con số cập nhật sau cùng. Thầy cô dạy trong bộ môn trong năm cũng thường thay đổi. Năm lớp bảy, môn địa lý cô Mẫu dạy học kỳ một rồi nghỉ. Học kỳ hai cô Nguyệt dạy thay. Tương tự, sinh vật học kỳ một là cô Sâm, học kỳ hai là cô Huyên. Thầy Nghiêm dạy pháp văn thì lại dạy tụi tôi toán lớp bảy… Nhớ khi ấy Pháp Văn giáo trình mới sau giải phóng chưa có, thầy Nguyễn Bỉnh Khiên phải tạm dạy Pháp Văn bằng giáo trình Le Francais élémentaire… Một thời kỳ biến động với bao kỷ niệm vui buồn khó quên.
Cảnh vật tĩnh lặng sao tâm hồn xao động. Bóng dáng mấy cô nữ sinh mà tôi từng yêu bằng mắt cũng lần lượt hiện ra. Thằng Mèo Già, Kiệt L, Luân Đui, Hưng Rèo, Quốc Dũng, Cóc Ghẻ, Hùng Campuchia, Hải Tặc Râu Đen… đang cười giỡn với tôi. Các bạn nữ như Nga, Hà, Tiên, Loan, Nhãn, Kiều, Phú đang bất bình vì cái kiểu chọc phá khả ố của mấy thằng con trai. Phạm Đức Long đang say mê với bài tập vật lý mới vừa sưu tầm. Lớp đang im lặng bổng phát ra tiếng nhạc từ cái radio của thằng Đỗ cao Lữ…
Bạn bè tôi thành đạt có, thất bại có, giàu có, nghèo có. Mỗi lần họp mặt, anh em đều cởi áo xã hội ra mà chơi với nhau. Bọn tôi như quên mình đang là người chồng, người cha gương mẫu (hay ít ra cũng muốn ra vẻ gương mẫu), mầy tao mi tớ, bô lô ba la như thuở mười ba. Mọi được mất bại thành bỗng chốc hóa hư không. Đêm về ôm bà xã mà vẫn còn mơ thấy mình đang nói chuyện với bạn bè. Cũng may là bà xã và các con rất hiểu và rất ngưỡng mộ tình bạn PK nên thấy vui chứ không khó chịu.
Thầy cô khi xưa bây giờ hầu hết đã về hưu, tuổi đã qua thất thập. Có thầy cô đã ra đi vĩnh viễn như thầy Nhàn tổng giám thị, cô Chi Liêm dạy toán… Những người còn lại đầu tóc cũng bạc phơ. Bóng thời gian không chờ ai, vẫn tiếp tục làm cái công việc thầm lặng mà tàn nhẫn của nó. Thời gian đang thúc giục những hậu bối tứ tuần, ngũ tuần thậm chí lục tuần quên đi những bất đồng, cùng góp tay lo cho thầy cũ.

tran-van-tien
Một lần cùng anh em đến thăm thầy Trần văn Tiễn dạy Pháp Văn đang bị ung thư gan gia đoạn cuối, thầy nắm tay tôi mãi không muốn buông ra. Thầy không có dạy tôi. Nhưng chỉ cần một câu nói: “thưa thầy con là cựu học sinh trường PK” là đủ để thầy trò hàn huyên tâm sự không biết bao nhiêu chuyện. Tôi thấy tôi đã sơ sót khi lãng phí một thời gian dài mãi lo cơm áo gạo tiền, thiếu chăm lo cho thầy cô cũ. Các thầy cô cũng đâu có ước mơ gì nhiều, chỉ là được học trò cũ tới thăm, được gặp gỡ bạn đồng liêu cũ, được cảm thấy mọi người vẫn còn nhớ tới mình.
Mấy chục năm đã trôi qua. Mỗi lần về thăm lại trường xưa, thầy cũ, bạn đồng môn, tôi lại cảm thấy nôn nao lạ.
Dù cho sáng ra:
Quác mắt coi khinh nghìn lực sĩ
Chiều về:
Khom lưng làm ngựa lũ nhi đồng,
Tối đến:
Quỳ gối trả bài cô chủ nhỏ (Cái câu này của tôi chứ không phải của Lỗ Tấn)
…Thì trong cộng đồng Petrus Trương Vĩnh Ký, tôi vẫn là tôi, cậu học trò nhỏ thuở nào. Tôi muốn khoanh tay cung kính nói tiếng thưa thầy, thưa cô. Tôi muốn nói lời yêu thương và đóng góp sức nhỏ của mình với trường xưa kỷ niệm, với thầy cô, với bè bạn, những thành tố đã giúp tôi được là chính tôi ngày hôm nay.
Trần Hữu Hiệp