Tiểu sử Ông Lê Hồng Phong

Tiểu sử Lê Hồng Phong
(1902-1942)

        Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn sinh năm 1902 tại làng Thông Lãng,huyện Hưng Yên.tỉnh Nghệ An.Tháng 01 năm 1924,lúc chưa đầy 22 tuổi,đồng chí cùng Phạm Hồng Thái sang Thái Lan rồi Trung Quốc để làm Cách Mạng.Vào nhóm Tâm Tâm Xã,một tổ chức Cách Mạng do Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn thành lập.Học trường quân sự Hoàng Phố (8/1924-12/1925)Năm 1926 học trường Không quân Quảng Châu.Vào Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 10/2/1926.Sau đó học trường không quân Leningrat 10/1926-12/1928 .Từ năm 1928 đến 1931 học trường Đại học Phương Đông và vào Đảng Cộng sản Liên Xô.

Năm 1931 đồng chí vê nước hoạt động,tham gia củng cố cơ sở của Đảng Năm 1934 đ/c Lê Hồng Phong đứng đầu Ban Lãnh đạo hải ngoại của Đảng. Năm 1935 , tổ  chức Đại hội Đảng lần 1 tại Macao, đ/c được bầu làmTổng Bí thư, trưởng đoàn đại biểu dự Đại hội lần VII Quốc tế Cộng sản, sau đó được bầu làm ủy viên Ban chấp hành Quốc tế cộng sản. Năm 1937 đ/c về Sàigòn hoạt động, thành lập ” Mặt trận Dân chủ Đông Dương “.

Trước sự lớn mạnh của phong trào Cách mạng trong nước, cuối năm 1937, Lê Hồng Phong về nước hoạt động bí mật tại Sàigòn để trực tiếp cùng Trung ương Đảng chỉ đạo phong trào. Thời gian này, người bạn đời của đồng chí là Nguyễn Thị Minh Khai cũng về nước tham gia Xứ ủy Nam Kỳ kiêm Bí thư Thành ủy Sàigòn-Chợ Lớn. Nắm sát tình hình thực tế, Lê Hồng Phong cùng với Trung ương Đảng quyết định chuyển Mặt trận Nhân dân Phản Đế thành Mặt trận Dân chủ nhằm tập hợp rộng rãi hơn nữa đông đảo quần chúng, tranh thủ hơn nữa mọi lực lượng có thể tranh thủ. Giữa lúc chủ trương  đúng đắn đó đang được sự hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân, thúc đẩy họ đấu tranh giành nhiều thắng lợi mới , thì Lê Hồng Phong bị thực dân Pháp bắt ngày 22-6-1938. Bọn mật thám dùng mọi thủ đoạn tra tấn, dụ dỗ nhưng đồng chí nhất quyết không khai. Không đủ chứng cớ để buộc tội, tòa án của đế quốc Pháp đành kết án đồng chí sáu tháng tù giam và ba năm quản thúc. Thế nhưng, khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, dù thời gian quản thúc chưa hết, Lê Hồng Phong lại bị  bắt vào giam tại Sàigòn. Cuối năm 1940, khi đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai bị bắt, đế quốc Pháp đã hèn ghép thêm tội cho Lê Hồng Phong và đày ra Côn Đảo. Biết Lê Hồng Phong là cán bộ lãnh đạo của Đảng và là chồng của  Nguyễn Thị Minh Khai, bọn trùm thực dân Pháp ở Nam Kỳ đã ra lệnh cho bọn chúa đảo phải tìm mọi cách hãm hại. Nhữn đòng thù tàn ác, dã man đã làm Lê Hồng Phong kiệt sức dần và mất ngày 5-9-1942. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Lê Hồng Phong còn nói to lời trăn trôi cho bạn tù ở các phòng bên : ” Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng, tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin thắng lợi vẻ vang của Cách Mạng .”

Lòng tin vững chắc đó, nguyên nhân quan trọng tạo nên những cống hiến to lớn của Lê Hồng Phong  đối với Đảng, đối với nhân dân, mãi mãi là nguồn sức mạnh cho các thế hệ Đảng viên trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp của Đảng.