Bài dịch L’EXPIATION – IL NEIGEAIT của GS Đỗ Quang Vinh

L’EXPIATION – IL NEIGEAIT
Victor Hugo (1802-1885)
Dẫn Nhập
“Il neigait…Il neigait..” là câu thơ được lập đi lập lại trong bài “L’expiation” trích từ “Les Châtiments” (1853), một tác phẩm chính trị, chống lại Napoleon III khiến ông phải lưu vong tại Anh. Hugo viết sau khi đã thể hiện bi kịch của chiến tranh qua bài “NOX”. Ngoài giá trị lịch sử, tác phẩm còn mang chiều kích triết-lý: Bài thơ không chia ra thành từng khổ, ghi lại sự thê thảm và bất hạnh của một đội quân đi bộ trở về sau cuộc viễn chinh, nói lên số phận của con người trước cái chết, cho thấy cuộc sống là một bi kịch không có ý nghĩa.
Mùa xuân năm 1812 Napoleon tập hợp một đội quân 600.000 người, trong số đó phân nửa là những nước phụ thuộc. Ngày 24 tháng 6 Napoleon cố gắng bao vây hai quân đoàn Nga. Sau hai tháng hành quân, Hoàng-đế đến gần Moscow nhưng không thành công. Tuy nhiên, bệnh tật và đặc biệt là lính đào ngũ đã cướp đi hơn 150, 000 người đàn ông và ngựa thì mất hầu hết. Sau cuộc chiến đấu vô cùng dữ dội như chưa từng thấy, trong đó 50.000 người Nga và 30.000 Pháp bị diệt, Napoleon vào được Moscow thì khi ấy các nguồn tiếp liệu gần như bị tiêu diệt do đám cháy lớn. Sau nhiều tháng do dự, ông quyết định bắt đầu trở về vào ngày 19 Tháng 10 năm 1812. Nhưng quá muộn: mùa đông cực kỳ khắc nghiệt đã tới, cuộc rút quân biến thành thảm họa.
Il neigeait. On était vaincu par sa conquête.

Pour la première fois l’aigle baissait la tête.

Sombres jours ! l’empereur revenait lentement,

Laissant derrière lui brûler Moscou fumant.

Il neigeait. L’âpre hiver fondait en avalanche.

Après la plaine blanche une autre plaine blanche.

On ne connaissait plus les chefs ni le drapeau.

Hier la grande armée, et maintenant troupeau.

On ne distinguait plus les ailes ni le centre.

Il neigeait. Les blessés s’abritaient dans le ventre

Des chevaux morts ; au seuil des bivouacs désolés

On voyait des clairons à leur poste gelés,

Restés debout, en selle et muets, blancs de givre,

Collant leur bouche en pierre aux trompettes de cuivre.

Boulets, mitraille, obus, mêlés aux flocons blancs,

Pleuvaient ; les grenadiers, surpris d’être tremblants,

Marchaient pensifs, la glace à leur moustache grise.

Il neigeait, il neigeait toujours! La froide bise

Sifflait ; sur le verglas, dans des lieux inconnus,

On n’avait pas de pain et l’on allait pieds nus.

Ce n’étaient plus des coeurs vivants, des gens de guerre

C’était un rêve errant dans la brume, un mystère,

Une procession d’ombres sous le ciel noir.

La solitude vaste, épouvantable à voir,

Partout apparaissait, muette vengeresse.

Le ciel faisait sans bruit avec la neige épaisse

Pour cette immense armée un immense linceul ;

Et chacun se sentant mourir, on était seul.

— Sortira-t-on jamais de ce funeste empire ?

Deux ennemis ! le czar, le nord. Le nord est pire.

On jetait les canons pour brûler les affûts.

Qui se couchait, mourait. Groupe morne et confus,

Ils fuyaient ; le désert dévorait le cortège.

On pouvait, à des plis qui soulevaient la neige,

Voir que des régiments s’étaient endormis là.

Ô chutes d’Annibal ! lendemains d’Attila !

 

Fuyards, blessés, mourants, caissons, brancards, civières,

On s’écrasait aux ponts pour passer les rivières,

On s’endormait dix mille, on se réveillait cent.

Ney, que suivait naguère une armée, à présent

S’évadait, disputant sa montre à trois cosaques.

Toutes les nuits, qui vive ! alerte ! assauts ! attaques !

Ces fantômes prenaient leur fusil, et sur eux

Ils voyaient se ruer, effrayants, ténébreux,

Avec des cris pareils aux voix des vautours chauves,

D’horribles escadrons, tourbillons d’hommes fauves.

Toute une armée ainsi dans la nuit se perdait.

L’empereur était là, debout, qui regardait.

Il était comme un arbre en proie à la cognée.

Sur ce géant, grandeur jusqu’alors épargnée,

Le malheur, bûcheron sinistre, était monté ;

Et lui, chêne vivant, par la hache insulté,

Tressaillant sous le spectre aux lugubres revanches,

Il regardait tomber autour de lui ses branches.

Chefs, soldats, tous mouraient. Chacun avait son tour.

Tandis qu’environnant sa tente avec amour,

Voyant son ombre aller et venir sur la toile,

Ceux qui restaient, croyant toujours à son étoile,

Accusaient le destin de lèse-majesté,

Lui se sentit soudain dans l’âme épouvanté.

Stupéfait du désastre et ne sachant que croire,

L’empereur se tourna vers Dieu ; l’homme de gloire

Trembla ; Napoléon comprit qu’il expiait

Quelque chose peut-être, et, livide, inquiet,

Devant ses légions sur la neige semées :

« Est-ce le châtiment, dit-il, Dieu des armées ? »

Alors il s’entendit appeler par son nom

Et quelqu’un qui parlait dans l’ombre lui dit : Non.

 

TRỪNG PHẠT TRONG MƯA TUYẾT
Cuộc viễn-chinh thảm bại. Tuyết vẫn đổ mau.
Lần đầu tiên, đại-bàng gục đầu thiểu não,
Ngày tối sầm. Hoàng-đế lảo-đảo quay về
Để lại sau lưng Mát-cơ-va bốc khói.
Rét Đông cắt thịt, chìm trong bóng tối tuyết rơi.
Tuyết vẫn rơi, tuyết lở, nơi nơi bão tuyết,
Tuyết ngập trắng mọi đồng bằng nối tiếp bao-la,
Chẳng còn nhận ra đâu là người chỉ-huy, đâu là cờ xí.
Mới hôm qua còn đại quân là thế,
Mà hôm nay sao như thể đàn bò?
Chẳng còn nhận ra đâu là cánh quân, đâu là đầu não.
Tuyết vẫn đang rơi!
Các thương binh trong bụng ngựa chết là nơi ẩn núp;
Trước cửa lều đóng quân đổ nát điêu-tàn
Những lính canh lặng câm, toàn thân bất động
Vẫn đứng yên cho sương giá đóng băng.
Họ đứng yên, miệng còn ngậm kèn đồng,
Đạn, vỏ đạn trộn lẫn với bông tuyết trắng.
Mưa tuyết rơi, lạ kìa, quân tinh-nhuệ bỗng run run!
Ria mép xám đóng băng, họ trầm ngâm lê gót.
Tuyết vẫn rơi, trời đang bão tuyết, gió bấc lạnh căm,
Gió rít trên những tảng băng, từ nơi xa-xăm nào đó.
Họ đi chân trần, chẳng có bánh ăn.
Không phải đó là những trái tim sống động,
Trái tim của những người bị ném vào ác-mộng chiến-tranh,
Một giấc mơ lạc-lõng trong mù sương tranh-giành bí-ẩn,
Một đám rước dưới bầu trời xám ngắt tối đen.
Hoang vắng mênh-mông, thật xem kinh-khủng.
Khắp nơi nơi chỉ thấy im-ắng trả thù.
Khác chi tấm vải rộng liệm xác đoàn quân.
Ai cũng nghĩ mình đã chết, thấy mình cô-đơn trơ-trọi.
-Liệu có bao giờ thoát khỏi nạn đế-vương?
Đế-chế này đã gây bao tử-thương kinh-hãi!
Hai kẻ thù dữ tợn, họ phải đương đầu:
Ngoài các chiến-lược gia, còn tồi-tệ biết bao phương bắc!
Triệt các ổ mai-phục, họ nã đại-bác phóng đi.
Kẻ nằm xuống, người sắp chết, cả nhóm người ủ-ê lộn-xộn,
Họ chạy trốn, nhưng sa-mạc đang nuốt trọn đám đông.
Có thể thấy những trung-đoàn nằm im trong nếp băng nứt-nẻ.
Hôm nay Annibal sụp đổ. Những ngày tới, ắt sẽ Attila!
Đào-tẩu, bị thương, chết-chóc, xe đạn, băng-ca, võng cáng
Thảy lao xuống cầu để vượt thẳng qua sông,
Vạn người nằm ngủ, thức dậy không quá trăm.
Ney, mới vào đội quân, nay âm-thầm được thoát,

Giành nhau đồng hồ đeo tay với ba kỵ-binh, lính Cazắc.
Đêm nào cũng vậy, cảnh giác, báo động, xung-kích, tấn-công!
Súng của họ, những bóng ma đột-nhập tay không cướp đoạt.
Đối phó sức kháng-cự trong tối-tăm, thực toát mồ-hôi!
Những tiếng kêu rên như bầy kên-kên trọc-trụi, ôi thảm-thiết!
Những phi-đội khủng-khiếp, như ác-thú lồng-lộn, những kẻ điếc quay cuồng.
Trong đêm tối, cả một đội quân hùng-cường biến mất.
Hoàng-đế đó, ông đang quan-sát đứng coi,
Hệt như dưới gốc cây sồi,
Trước rìu chờ sẵn, con mồi là ông.
Con người vĩ-đại này, cho đến nay, ai nấy đều chưa dám đụng,
Bất hạnh thay, tên tiều-phu ác độc đã nhắm đúng không sai,
Và ông, cây sồi sống, lưỡi rìu tử-thần chặt ngay lập tức,
Rùng mình trước bóng ma tang-tóc phục-thù,
Ông nhìn quanh, bao nhiêu cành gẫy từ từ ngã đổ,
Từ chỉ-huy đến binh lính, tất cả đều đã chết rồi.
Số phận mình, ai nấy đều chờ coi sắp đến;
Còn ông, nhìn lưu-luyến quanh lều,
Thấy bóng mình đi lại, đều đều trên lều vải
Ai cũng có phần số, những người còn lại nghĩ thế,
Số phận mình sẽ mang tội phản đế chống vương.
Trong thâm-tâm, ông cảm thấy chán-chường lo sợ,
Choáng váng trước thảm-hoạ và chỉ biết có niềm tin,
Hoàng-đế quay về van xin Thượng-Đế,
Con người thuở vinh-quang giờ run-rẩy là thế!
Nã-phá-luân biết mình sẽ chịu tội,
Có lẽ gánh cho tội lỗi phải đền,
Mặt tái mét, vẻ bồn-chồn lo-lắng,
Ông nói trước đoàn quân nằm im trên tuyết trắng đầy-dẫy:
“Ôi, Thiên-Chúa các đạo binh, phải chăng đây ngày trừng phạt?”
Rồi nghe có tiếng gọi đúng thật tên ông.
Từ trong bóng tối mênh-mông,
Tiếng vang ai đó đáp rằng: Không! Không!
Đỗ Quang-Vinh diễn dịch